Cây cải dầu chuyển gen
Cây cải dầu là một loại cây được biến đổi gen từ hạt cải dầu, do các nhà nhân giống thực vật Canada phát triển với mục đích biến đổi chất lượng dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất béo hòa tan của loại cây này. Cây cải dầu đựơc trồng chủ yếu ở các vùng phía tây Canada và một vài hecta trồng ở Ontario và tây bắc Thái Bình Dương, trung tâm phía bắc và vùng đông nam nước Mỹ. Cây cải dầu cũng được trồng ở các nước khác như Châu Âu và Ôxtrâylia.
Cây cải dầu được biến đổi gen để mang các tính trạng như khả năng chịu thuốc diệt cỏ, có hàm lượng laurate và axit oleic cao.
Gạo vàng
Gạo vàng TM là một loại ngũ cốc chuyển gen có khả năng nâng cao hàm lượng Vitamin A trong bữa ăn hàng ngày. Loại gạo này có khả năng sản sinh và lưu giữ chất beta-carotene. Nó được đặt tên là gạo vàng TM bởi vì nội nhũ (chất bột bên trong của hạt gạo) của nó có màu vàng nhạt, do chất beta-carotene tạo ra.
Cây lúa chỉ sản sinh ra hợp chất caroteoid được chuyển thành Vitamin A trong những bộ phận có màu xanh của cây, tuy nhiên trong hạt gạo mà con người vẫn dùng lại không có hợp chất này. Chính vì thế sự thiếu hụt Vitamin A (VAD) thường xảy ra ở những nơi sử dụng gạo làm lương thực chính.
Ơ các nước đang phát triển, sự thiếu hụt vitamin A là một trong những nguyên nhân chính gây ra tử vong cho trẻ nhỏ. Hàng năm có hơn một triệu trường hợp tử vong ở trẻ em liên quan đến thiếu hụt Vitamin A. Thiếu vitamin A làm cho sức đề kháng của trẻ bị giảm đi, chính vì thế sẽ rất dễ nhiễm những căn bệnh lây nhiễm. Đây cũng là nguyên nhân chính gây ra sự mù lòa ở trẻ. Người ta đang cố gắng giải quyết vấn đề này (ví dụ như trộn thêm Vitamin A vào gạo). Tuy nhiên, do chi phí cao và thiếu cơ sở hạ tầng có hiệu quả phục vụ cho sự phân phối nên biện pháp còn nhiều hạn chế. Do vậy biện pháp biến đổi gen đã được sử dụng để nâng cao chất lượng dinh dưỡng của lúa gạo.
Ngô chuyển gen
Ngô là một trong ba loại lương thực quan trọng trên thế giới. Có trên 80 triệu ha ngô được trồng ở các nước đang phát triển. Khoảng 56 triệu hecta ngô được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, những nơi này người dân thường trồng ngô trên các thửa ruộng nhỏ. Hầu hết ngô được trồng để làm lương thực, là một phần trong hệ thống nông nghiệp với đặc trưng sản xuất là gồm một số loại cây trồng và hoạt động chăn nuôi.
Ngô được biến đổi gen để mang các tính trạng như kháng côn trùng và chịu thuốc diệt cỏ.
Đậu tương biến đổi gen
Đậu tương là một loại cây trồng lâu đời đã được trồng tại Trung Quốc từ năm 3000 trước công nguyên. Đây là loại cây chứa dầu đem lại lợi ích kinh tế to lớn nhất trên thế giới. Hạt đậu tương có chứa tỷ lệ amino axit thiết yếu nhiều hơn ở cả thịt, do vậy đậu tương hiện là một trong những loại cây trồng lương thực quan trọng nhất trên thế giới.
Đậu tương được biến đổi gen để mang các tính trạng như khả năng chịu thuốc diệt cỏ và có hàm lượng axit oleic cao.
Cây bông
Trên thế giới, cây bông là loại cây cung cấp sợi chủ yếu, chiếm tới một nửa số lượng vải sợi ( Rabobank, 1996). Việc trồng bông đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của nhiều nước kể từ khi lần đầu tiên nó được đưa vào canh tác từ cách đây 5 000 đến 10 000 năm ( Stephens và Mosley, 1974). Tại Châu Âu, cây bông chỉ được biết đến vào cuối thời Trung cổ. Tuy nhiên, trong suốt cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra ở Tây Âu, cây bông đã đóng một vai trò quan trọng; Sự gia công với quy mô lớn đã khiến bông trở thành loại sợi chủ yếu trên thế giới để sản xuất quần áo vào cuối thế kỷ 19 với lượng bông chiếm tới 80% tổng số nguyên liệu vải sợi cung cấp. Ngày nay, trong khi cây bông vẫn duy trì được vị trí là một loại sợi tự nhiên quý giá và được ưa chuộng nhất, thì đã có nhiều loại sợi tổng hợp nhân tạo ra đời khiến thị phần bông giảm xuống còn 40%. Hiện nay, khoảng 20 triệu tấn bông thô với trị giá khoảng 20 triệu đô la được sản xuất hàng năm, 30% trong số đó được buôn bán dưới dạng nguyên liệu thô. Trong niên vụ 2000/2001, giá bông đã xuống tới mức thấp kỷ lục, chỉ còn 0,40 đôla một pound và số tiền trợ giá mà các chính phủ phải bỏ trong niên vụ này xấp xỉ 4 triệu đô la. Buôn bán các sản phẩm liên quan đến bông chiếm tới một nửa trong tổng số 115 tỷ đô la kim ngạch buôn bán vải sợi và 133 tỷ đô la kim ngạch buôn bán quần áo ( Rabobank 1996).
Trên thế giới, bông được trồng ở các khu vực có khí hậu nóng, tức là ở khoảng 65 nước nhiệt đới, cận nhiệt đới và những nước có khí hậu ôn hoà. Trong khi thực chất bông là một loại cây trồng hợp với thời tiết nóng và tốt nhất là được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, thì một số giống bông đã được phát triển để trồng và thích nghi tốt ở những nước trồng bông có nhiệt độ ấm hơn. Bông được trồng trên nhiều loại đất, kể cả đất sét và đất cát nhưng tôt nhất là đất có nhiều mùn. Bông là một trong những loại cây trồng có hiệu quả cao nhất trong việc tận dụng nước, đem lại một trong những vật liệu làm khô có chất lượng cao nhất trong một lít nước. Quá trình từ trồng trọt đến thu hoạch mất khoảng 140 đến 250 ngày (Hearn và Fitt 1992); cũng có thể trồng bông ở những khu vực có thời kỳ sương giá ít hơn 180 ngày. Thời gian trồng và thu hoạch bông ở khu vực Bắc bán cầu và Nam bán cầu khác nhau và được liệt kê dưới đây theo số liệu của một số nước trồng bông chính. Braxin được chia thành 2 khu vực sản xuất bông. Ơ phía nam Braxin, có một hệ thống sản xuất bông thâm canh với đầu vào cao, còn ở phía bắc lại có hệ thống sản xuất bông quanh năm với chi phí đầu vào thấp hơn.
Việc cung cấp nước cho bông là đặc biệt quan trọng, lý tưởng nhất là tạo cho cây bông thời kỳ đầu ẩm ướt phù hợp cho quá trình sinh trưởng vào mùa khô. Đây là thời kỳ hoa và quả bông phát triển và khô đi. Cần phải thường xuyên tưới nước cho cây. Cây bông cần nhiều ánh nắng mặt trời và nhiệt độ tăng trưởng trung bình tối ưu là từ 25oC đến 30oC. Việc sản xuất bông đòi hỏi phải có nhiều nhân công và vốn, vì thế việc trồng và thu hoạch bông thường diễn ra ở các nước đang phát triển có nguồn nhân công rẻ và thiếu vốn, còn việc cất giữ lại dành cho các nước công nghiệp.
Cây bông là thành viên thuộc giống Gossypium và thuộc họ Malvaceae, bao gồm loài cây bụi có hoa Hibiscus và Okra. Hơn 95% cây bông trồng thương mại được trồng là bông vùng cao, thuộc giống bông Gossypium có lông, trong khi bông nguyên liệu sợi dài, còn gọi là bông có gai G. barbadense chiếm một diện tích dưới 5%. Cả hai giống cây bông này đều tự thụ phấn và không có các loại cây dại xác định nào lai chéo với bông vùng cao và bông nguyên liệu sợi dài. Hai loại bông Châu A là G. arboretum và G. herbaceum được trồng ở những vùng hạn chế giữa Châu A và Châu Phi; cả hai loại bông này đều là cây lưỡng bội và không thể lai với cây bông vùng cao và cây bông nguyên liệu sợi dài.
Cây bông vùng cao và cây bông nguyên liệu sợi dài đều cho bông quanh năm, nhưng chúng thường được thu hoạch như cây trồng một vụ. Với một số ngoại lệ, những loại hạt giống thương mại đem bán cho người nông dân trên khắp thế giới này đa dạng hơn những loại hạt lai: Ân Độ là một ngoại lệ vì nước này có tơi 50% cây bông lai.
Bông được trồng chủ yếu để lấy sợi mặc dù một lượng nhỏ hạt bông được dùng như một nguồn thực phẩm, thức ăn gia súc và dầu ăn cho con người và vật nuôi. Dầu hạt bông được tinh chế trước khi dùng để loại bỏ chất Gossypol độc hại cho người và tiêu hoá của động vật. Quả bông thường được biết đến như quả nang, có chứa khoảng 10 hạt và được bao quanh bởi sợi tơ, tạo thành vỏ bọc của hạt. Sợi bông là sản phẩm thương mại chính đem lại thu nhập cho những người trồng bông và sản lượng sợi bông gần bằng một phần ba trọng lượng hạt bông được người nông dân thu hoạch. Sợi bông được tách khỏi hạt thông qua công đoạn tỉa hạt bông. Vì bông là loại cây tự thụ phấn nên người nông dân có thể cất trữ hạt giống để gieo trồng. Tuy nhiên, trong qúa trình tỉa hạt bông, một số sợi bông nhỏ vẫn dính vào hạt, vì thế cần phải tiếp tục công đoạn tách nữa trước khi sợi bông được dùng như loại hạt có chất lượng cao để sản xuất ra loại bông tốt nhất. Do vậy trên thực tế hàng năm người nông dân vẫn phải chi phí để mua hạt giống mới. Sản lượng sợi bông thế giới đã tăng hơn gấp đôi từ 9,8 triệu tấn niên vụ 1960/1961 lên 21,2 triệu tấn năm 2001/02. Năng suất sợi bông cũng tăng gấp đôi trong vòng 20 năm qua từ 305 kg/hecta lên 635 kg/hecta trong khi đó diện tích bông vẫn gần như giữ nguyên. Trong khi sản lượng bông ở Châu Nam Mỹ và Châu Âu tăng khá chậm trong suốt 20 năm qua, thì tại một số nước Châu á như Trung Quốc sản lượng bông lại tăng đáng kể.
Cây bí đỏ biến đổi gen
Bí đỏ mùa hè là một loại quả mềm và hợp với khí hậu ấm áp, được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Bí đỏ mùa hè khác bí đỏ mùa thu và mùa đông ở chỗ nó được chọn thu hoạch trước khi vỏ quả cứng và quả chín. Không mọc lan như bí đỏ và bí ngô mùa thu và mùa đông, bí đỏ mùa hè mọc thành bụi rậm. Một số cây khỏe và có sức đề kháng tốt cho sản lượng khá cao.
Bí đỏ được biến đổi gen để kháng virut đặc biệt là virut khảm dưa hấu (WMV) và virut khảm vàng zucchini (ZYMV).
Đu đủ biến đổi gen
Liệu công nghệ do Trường Đại học Hawaii phát triển có được áp dụng ở các nước sản xuất đu đủ hay không? Đu đủ là một loại cây trồng quan trọng ở khu vực Đông Nam A, được dùng làm thức ăn phổ biến trong các hộ nông dân sản xuất nhỏ và gia đình của họ. Tháng 3 năm 1998, các đại biểu đến từ Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam đã họp mặt và thành lập Mạng lưới Công nghệ Đu đủ của khu vực Đông Nam á. Mạng lưới này nhằm xây dựng các sáng kiến riêng và tập hợp chúng lại cùng nghiên cứu và khuyến khích việc ứng dụng các lợi ích của công nghệ sinh học đối với khu vực Đông Nam á.
Mục tiêu cơ bản của mạng lưới này là nhằm cải thiện cuộc sống cho những người nông dân nghèo trong khu vực bằng cách nâng cao sản lượng đu đủ làm thực phẩm và nâng cao thu nhập của họ nhờ bán ra chợ những quả còn thừa. Với sự giúp đỡ của ISAAA, Công ty Monsanto và trường Đại học Hawaii, mục tiêu này đang dần dần đạt được thông qua sự hỗ trợ và chuyển giao công nghệ độc quyền. Bên cạnh đó là việc chia sẻ thông tin và tài liệu có liên quan, như những quy định về an toàn sinh học đối với cây đu đủ của USDA và những khía cạnh thực tế mà Hawai cân nhắc trong việc phát triển trồng thử nghiệm trên cánh đồng một cách có hiệu quả và an toàn. Hiện nay, đu đủ chuyển gen đang được phát triển với sự hợp tác của các nước thuộc khu vực Đông Nam á.
Củ cải đường biến đổi gen
Đường có nguồn gốc từ củ cải đường (có tên khoa học là Beta VulgarisL) đáp ứng gần một phần ba nhu cầu về đường trên thế giới, trong khi hai phần ba còn lại là đường mía. Củ cải đường được trồng ở những nước có khí hậu ôn hòa như Châu Âu, Liên bang Nga và Hoa Kỳ. Tính đến năm 2000, Châu Âu đã sản xuất được 168.732.216 tấn củ cải đường, sau đó là Hoa Kỳ với 29.502.500 tấn và Liên Bang Nga với 14.040.800 tấn. Các nước như Ôxtrâylia, Braxin, Trung Quốc, Cuba, Liên minh Châu Âu, Thái Lan, Ucraina là những nước xuất khẩu củ cải đường lớn nhất thế giới.
Củ cải đường là một loại cây trồng đặc biệt. Hầu hết các phần của cây đều có thể sử dụng. Trong khi củ cải được chế biến thành đường sucrôza, thì lõi rễ cây khô có chứa hàm lượng chất xơ dễ tiêu hóa và nguồn năng lượng cao có thể được sử dụnglàm thức ăn gia súc bổ sung trong các ngành chăn nuôi bò lấy thịt và lấy sữa. Bên cạnh đó, từ củ cải người ta còn chiết xuất được một lượng đáng kể muối natri của axit gulamic, một loại muối axit amin có tác dụng làm tăng hương vị món ăn. Phần đầu củ cải bị bỏ lại trên cánh đồng sau khi thu hoạch có thể được dùng làm phân bón cho cây trồng kế tiếp hoặc dùng làm thức ăn cho vật nuôi.
Trồng củ cải đường có thể đem lại hiệu quả trong việc sử dụng đầu vào nông nghiệp như phân đạm và nước. Cải đường cần ít phân đạm hơn bởi nó có bộ phận tự tổng hợp đạm có sẵn trong đất.
Củ cải đường được biến đổi gen để mang các tính trạng như khả năng chịu thuốc diệt cỏ, kháng virut và sự sinh tổng hợp fructant.
Khoai tây biến đổi gen
Khoai tây được xem là cây lương thực quan trọng thứ tư trên thế giới, với sản lượng hàng năm lên đến 300 triệu tấn và được trồng trên hơn 18 triệu hecta. Hiện nay hơn một phần ba sản lượng khoai tây trên thế giới là của các nước đang phát triển. Sau khi Liên Xô tan rã thì Trung Quốc trở thành nước sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới. Ân Độ đứng thứ tư. Mặc dù sản lượng khoai tây tại Châu Âu đã giảm xuống từ đầu những năm 1960, nhưng bù vào đó sản lượng khoai tây ở Châu á, Châu Âu và Châu Nam Mỹ lại tăng lên, điều này giải thích tại sao sản lượng khoai tây trên thế giới ngày càng tăng.
Khoai tây được biến đổi gen để mang các tính trạng như khả năng kháng côn trùng và kháng virút.
Cà chua biến đổi gen
Cà chua được coi là loại quả vườn phổ biến nhất hiện nay. Tuy nhiên trong nhiều năm cà chua bị coi là quả độc và chỉ được trồng chỉ để làm cảnh. Cà chua thường rất dễ trồng và một số giống cà chua đem lại vụ mùa bội thu cho các gia đình trồng chúng. Chất lượng quả cà chua chín cây vượt xa tất cả những loại quả khác có mặt trên thị trường thậm chí trong cả mùa vụ. Cây cà chua rất mềm và thích hợp với thời tiết ấm áp thế nên nó thường được trồng vào vụ hè.
Cà chua được biến đổi gen để mang các tính trạng như khả năng chịu thuốc diệt cỏ và làm chậm quá trình chín.
Các loại cây trồng đang được phát triển
Táo biến đổi gen
Bạn có biết có tới hơn 6000 loại táo? Những loại phổ biến nhất là Fuji, Gala, Golden Delicious, Granny Smith, McIntosh, Red Delicious và Spartan. Ươc tính đến năm 2005, sẽ có thêm nhiều loại táo có chất lượng cao. Cho tới năm 2000, sản lượng táo trên toàn thế giới là 60.831.349 triệu tấn.
Táo là một trong những loại trái cây được ưa thích nhất không chỉ bởi hương vị thơm ngọt mà nó còn rất tốt cho sức khỏe. Các cuộc nghiên cứu cho thấy ăn táo có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh ung thư, các bệnh tim mạch và béo phì.
Táo được biến đổi gen để mang các tính trạn như làm chậm quá trình chín và kháng sâu bệnh.
Xoài biến đổi gen
Xoài là loại trái cây phổ biến nhất và được xem như ?táo? hay ?đào? ở khu vực nhiệt đới. Trong tổng số sản lượng trái cây nhiệt đới, xoài chiếm tới 40%. Và khoảng 63% sản lượng xoài trên thế giới do Ân Độ sản xuất với hơn 1000 giống xoài đang được trồng thương mại. Bên cạnh Ân Độ, các nước trồng xoài chính là Braxin, Trung Quốc, Haiti, Inđônêxia, Mêxicô, Pakistan, Peru, Philippin, Thái Lan và Venezuala. Những nước này đã cung cấp cho chúng ta một loại trái cây thơm ngon quanh năm.
Xoài được thu hoặc khi chúng sắp chín. Nhưng một khi đã chín, thì xoài rất dễ bị dập chính vì thế để tránh thiệt hại người ta phải cẩn thận khi vận chuyển. Vì lý do này mà hiện nay các cuộc nghiên cứu đang được tiến hành để tìm cách làm chậm quá trình chín của xoài. Hiện nay tại các nhà khoa học đang nghiên cứu để làm tăng hương vị của xoài.
Chuối biến đổi gen
Trong số các loại cây trồng nhiệt đới, chuối rất được ưa thích do hương vị hấp dẫn của nó. Ngoài ra chuối còn là một loại trái cây đa dụng, vì người ta có thể chế biến chuối thành nhiều sản phẩm khác nhau chứ không chỉ dùng để ăn luôn. Loại trái cây giàu dinh dưỡng và không có chất béo này có chứa hàm lượng kali và chất xơ rất cao, và là nguồn cung cấp vitamin C chống oxy hóa.
Trên thế giới chuối được xếp vào một trong bốn loại cây trồng có diện tích trồng lớn nhất, với sản lượng ước tính là 64.627.049 tấn trong năm 2000. Các nước trồng chuối gồm có Châu Phi, Châu A, Châu Uc, Châu Nam Mỹ và Caribê. Tính đến cuối năm 2000, nước có sản lượng chuối cao nhất là Ân Độ ( 13, 9 triệu tấn), chiếm 21, 5% tổng sản lượng trên toàn thế giới.
Chuối có một tính trạng đặc biệt, đó là xu hướng đột biến, tạo ra nhiều giống chuối khác nhau. Có khoảng 1000 loại chuối, thuộc 50 giống và giống chuối phổ biến nhất là Cavendish.
Chuối được biến đổi gen để mang các tính trạng như kháng virut, giun tròn và nấm và có khả năng làm chín chậm. Chuối cũng là loại cây dự kiến được dùng làm vacxin có thể ăn được để phòng chống nhiều loại bệnh dịch khủng khiếp ở Thế giới thứ ba.
Dứa biến đổi gen
Cho dù có nhắm mắt lại, thì chúng ta vẫn nhận ra được hương vị của dứa giữa nhiều loại hương thơm pha chế và món salat trái cây.
Có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Nam Mỹ, dứa đã được Christopher Columbus đưa sang Châu Âu vào năm 1943. Vào thế kỷ 16, dứa được đưa sang Châu á và tại đây đã xuất hiện nhiều ngành công nghiệp sản xuất dứa đóng hộp. Dứa được xem như loại trái cây nhiệt đới được bán rộng rãi nhất, chiếm tới 44% tổng kim ngạch buôn bán trái cây nhiệt đới. Tính tới tháng 1 năm 2001, toàn thế giới đã trồng được khoảng 12 triệu tấn dứa. Trong vòng 30 năm qua, sản lượng dứa hàng năm trên thế giới đã tăng lên gấp ba lần.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông Lương thế giới vào năm 2000, năm quốc gia trồng dứa lớn nhất trên thế giới là Thái Lan (2, 281 triệu tấn), Philippin (1, 524 triệu tấn), Ân Độ (1, 44 triệu tấn), Braxin (1,353 triệu tấn), Trung Quốc (1,318 triệu tấn).
Hiện nay một số tổ chức nghiên cứu đang tiến hành nghiên cứu sự đa dạng di truyền của cây dứa. Bên cạnh đó, người ta đã biến đổi gen cây dứa để tăng khả năng kháng sâu bọ và virut và bổ sung tính trạng làm chậm chín của cây. Các tổ chức đang nghiên cứu là Ministộrio da Agricultura e do Abastecimento of Brazil (EMBRAPA - http://www.embrapa.br) together with L?organisme Scientifique Francias Spộcialisộ en Agronomie Tropicale (CIRAD - http://www.cirad.fr) Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Hawai (HARC - http://www.hawaiiag.org/harc/).
Lúa mạch biến đổi gen
Lúa mạch (có tên khoa học là Hordeum vulgare subsp, hay vulgare) là một trong những loại cây trồng ngũ cốc quan trọng nhất trên thế giới. Hầu hết lúa mạch được trồng ở những khu vực có khí hậu nóng mà cả lúa mỳ, lúa mạch đen và yến mạch đều được trồng. Những nước trồng lúa mạch nhiều nhất là Liên minh Châu Âu, Canada, Nga, Tây Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina và Hoa Kỳ. Trong năm 2000, tổng sản lượng lúa mạch trên thế giới đạt tới 132.182 triệu tấn.
Trên thế giới, khoảng một nửa sản lượng lúa mạch sản xuất ra được dùng làm thức ăn gia súc và làm mạch nha. Mạch nha từ lúa mạch được dùng trong sản xuất bia và một số loại nước uống được chưng cất khác. Những sản phẩm sản xuất từ lúa mạch cho người tiêu dùng thường được xay xát và qua quá trình xử lý. Trên thị trường một loại sản phẩm nổi tiếng là lúa mạch nghiền nhỏ. Các hình thức khác của sản phẩm từ lúa mạch là bột lúa mạch (làm bánh mỳ hoặc chất làm đặc súp), cám lúa mạch (làm bánh và cháo yến mạch), mạt lúa mạch (bảo quản và làm cho thịt mềm hơn).
Chính vì tầm quan trọng của lúa mạch, mà hiện nay người ta đang tiến hành nghiên cứu để cải tiến chất lượng lúa mạch và nâng cao khả năng kháng nhiều loại bệnh và sâu bọ của cây.
Khoai lang biến đổi gen
Robert Odeu từ làng Dohoko, đông bắc Uganda cho biết ?nếu không có khoai lang thì chúng tôi đã phải chịu một trận đói khủng khiếp?. Một thập kỷ của nội chiến, sâu bọ phá hoại và bệnh dịch đã để lại hậu quả là sự tàn phá và trận đói. Làng Dohoko không phải là nơi duy nhất. ở Uganda, cũng như ở các nước khác như Tiểu bang Saharan ở Châu Phi, và hàng nghìn ngôi làng đang phải dựa vào khoai lang để đảm bảo an ninh lương thực.
Tại sao khoai lang lại phổ biến như vậy?Khoai lang là một loại cây dễ trồng. Trong những điều kiện về khí hậu bất lợi và không cần đầu tư nhiều, sản lượng khoai lang trên một hecta có thể đem lại nguồn năng lượng và tiểu dinh dưỡng cao hơn bất cứ cây trồng nào khác. Cây trồng này có thể phát triển trong điều kiện khô hạn nhiều tháng liền. Khoai lang rất linh hoạt. Người nông dân có thể ngại sản xuất giữa hai mùa mưa trong khu vực mình. Họ để mặc cây khoai lang mà không cần chăm bón và chỉ thu hoạch ít một khi nào cần đến, hoặc họ có thể thu hoạch tất cả chỉ trong cùng lúc. Khoai lang được biến đổi gen để kháng các loại bệnh virut phá hoại cây (SPVD).
Dừa biến đổi gen
Bạn có biết rằng có thể sử dụng tất cả các phần của cây dừa không? Chính vì tính đa dụng mà cây dừa được xem như ?cây trồng của cuộc sống?. Sản phẩm có giá trị nhất của cây chính là dầu dừa chiết xuất từ cùi dừa. Hai nước sản xuất ra nhiều dầu dừa nhất là Indonêsia và Philippin với sản lượng cùi dừa khô thu được trong năm 1999 lần lượt là 2,91 triệu tấn và 1,37 triệu tấn. Ngoài ra còn có nhiều nước trồng dừa ở Châu A, châu Phi, Nam Thái Bình Dương, Ân Độ Dương, Châu Nam Mỹ và Caribê.
Chất làm cho dầu dừa trở nên hấp dẫn như vậy chính là hàm lượng axit lauric cao. Nhu cầu về lượng axit lauric cao vì nó được sử dụng để làm mứt, dầu ăn, mỹ phẩm, chất tẩy, bơ thực vật, dầu gội đầu và xà bông. Do vậy trên thế giới nhu cầu về dầu dừa luôn luôn cao. Ngành công nghiệp chế biến dừa hiện nay đang bị de dọa do sự phát triển của một số loại cây trồng biến đổi gen cho nhiều dầu, như hạt cải dầu. Việc nghiên cứu thúc đẩy phát triển sản xuất dầu dừa có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngành công nghiệp chế biến dừa.
Cục Phát triển nghiên cứu về Cây trồng cho dầu quanh năm ở vùng nhiệt đới (BUROTROP) có trách nhiệm củng cố việc nghiên cứu sản xuất chế biến dừa, dựa vào các tổ chức và viện nghiên cứu trên khắp thế giới. BUROTROP đang giữ tài liệu về các cuộc nghiên cứu gần đây do các tổ chức và viện nghiên cứu thành viên tiến hành.
Bên cạnh là một trong những nước sản xuất các sản phẩm từ dừa lớn nhất trên thế giới, Philippin còn đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu về cây dừa.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012
Các Loài Cây Biến Đổi Gen
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét